Cụ sinh giờ Thìn ngày 25 tháng 2 năm Bính Dần (1806) niên hiệu Gia Long thứ 5. Cụ đỗ Tú tài ba lần (mền) vào các khoa thi Hương năm Tân Mão (1831) Minh Mệnh 12, năm Quý Mão (1843) Thiệu Trị thứ 3 và năm Bính Ngọ (1846) Thiệu Trị thứ 6.
Thụy: Ðôn Cần, suy ra Cụ là người đôn hậu, cần cù hoặc Ðôn Cẩn, là người đôn hậu, cẩn thận (vì bản dịch đã dẫn chép: Ðôn Cân, chúng tôi ngờ là thiếu dấu thanh?).
Sinh thời, Cụ Phạm Ðức Mậu ngồi nơi dạy học. Học trò Cụ có nhiều người giỏi, trong đó có Nguyễn Thế Vinh là thầy thuốc tốt. Ông này là một trong những lương y đến chữa trị và chăm sóc Cụ trong trận ốm nặng cuối cùng.
* Bà cả: Phan Thị Trinh, sinh năm Tân Mùi (1811) con gái thứ năm của hai cụ Phan Trọng Thuần và Tôn Thị Khoát ở xóm Nguyên Cát, xã Võ Liệt.
Thụy: Từ Y.
Vợ chồng Cụ Mậu làm nhà ở trước nhà bố mẹ vợ.
- Ngày mất: 04-3 năm Nhâm Dần (1842).
- Phần mộ: Năm Ðinh Mão (1867) Tự Ðức 20, cải táng từ Bao Cạch xã Võ Liệt về Khúc Cỏ.
Sinh hạ:
Cụ Mền Phạm Ðức Mậu cùng bà Cả sinh 1 trai 2 gái:
0 Phạm Thị Mơn tuổi Giáp Ngọ (1834) Minh Mệnh thứ 15.
ậ Phạm Ðức Trạc (1838-1850) tuổi Mậu Tuất, Minh Mệnh 19, mất ngày 25-10 Canh Tuất (1850) Tự Ðức 3. Người vốn tư chất thông minh học giỏi.
0 Phạm Thị Miêng, tuổi Nhâm Dần (1842) Thiệu Trị thứ 2. Sinh con mấy ngày thì bà Cả mất; xin không ghi mã số ở đây.
Ngày 18-3 Bính Ngọ (1846) Cụ Mền Mậu cưới bà kế giáp (xóm) Hòa Thượng, xã Minh Quả (hoặc Thanh Quả - phía đầu cầu Bến Quan bên tả ngạn Rào Con - thuộc xã Thanh Chi). Bà là con gái thứ tư của ông Nguyễn Hữu Giai và bà kế, húy là Phương. Bà Phương có tiếng rất đẹp, bà góa chồng là ông Trần Văn Biểu.
* Bà Kế: Nguyễn Thị Loan, sinh giờ Mùi ngày 18-11 Quý Mùi (1823) Minh Mệnh thứ 4. Năm 24 tuổi bà về làm vợ kế Cụ Mền Mậu.
Năm 43 tuổi, bà bị ù tai. Uống lục vị, huyền sâm, ngưu tất ngót bốn mươi chén thì dần khỏi. Cụ Mền từ trần, bệnh trở lại nặng thêm rồi bà bị điếc.
Năm 49 tuổi, con dâu đầu là Bùi Thị (vợ Cụ Tựu) mang thai gần sinh thì mất. Bà ưu phiền suy nhược, răng rụng, tóc bạc.
Năm 51 tuổi, quãng đầu hạ năm Quý Dậu (1873) bà mất ngủ ba bốn tháng liền. Sang thu, bà ho khan, phù thũng. Bệnh nặng, thuốc thang không chuyển. Nhìn con đi thi về rớm nước mắt, bà gượng cười mà rằng: Các con đừng lo, ta còn sống để trông các con chăm chỉ học hành, đỗ đạt. Nhờ thuốc thang, bà đỡ dần. Nhưng sang đông, bà bị biến chứng nặng. Uống thuốc vào, liền đau bụng. Các thầy thuốc giỏi từ Cử nhân họ Nguyễn đến các lương y họ Trần, Phan đều bó tay.
- Ngày mất: 15-12 Quý Dậu (1873) hưởng thọ 51 tuổi.
- Phần mộ: Năm Tự Ðức 29 Bính Tý (1876) ngày 24-10 cải táng. Nay mộ dời về Cồn Sen, đánh dấu số 2 trong sơ đồ 5 ngôi đề: Cố Mền bà.
Sinh hạ:
Cụ Mền Mậu cùng bà kế sinh hạ 3 con trai, 4 con gái: (ở đây xin được ghi mã số cho 3 ông mà thôi)
ậ Phạm Ðức Tựu, mã số 124.111'131.
ậ Phạm Ðức Nhiếp, mã số 124.111'132.
0 Phạm Thị Kiên, sinh giờ Ngọ, 10-4 Quý Sửu (1853).
0 Phạm Thị Trới, sinh 17-2 Bính Thìn (1856).
0 Phạm Thị Hoành, sinh 11-01 Kỷ Mùi (1859).
ậ Phạm Ðức Thành, mã số 124.111'133.
0 Phạm Thị... , sinh giờ Dậu, 02-01 Giáp Tý (1864).
|